Bài phân tích chính luận chuyên sâu này mổ xẻ những trăn trở địa chính trị, đứt gãy thể chế và nghịch lý phát triển của Đông Nam Á thông qua hệ thống dữ liệu thực chứng từ Báo cáo Khảo sát Tình hình Đông Nam Á 2026 do Viện ISEAS – Yusof Ishak thực hiện. Bài viết chỉ ra sự phá sản dần của cơ chế đồng thuận truyền thống trước các điểm nóng khủng hoảng nội khu và hành vi xâm phạm chủ quyền trên Biển Đông; bóc tách sự hoài nghi bùng nổ trước chủ nghĩa bảo hộ thương mại dưới thời chính quyền Trump 2.0 cũng như tâm lý bất an sâu sắc trước sức ép kiềm tỏa kinh tế – chính trị của Trung Quốc.
Xuất phát từ tinh thần nhân đạo và phẩm giá con người, tác phẩm đề xuất lộ trình cải cách thể chế mang tính bước ngoặt: chuyển dịch sang cơ chế ra quyết định linh hoạt, hiện thực hóa các chuẩn mực pháp lý quốc tế (UNCLOS 1982), tăng cường sức bền chuỗi cung ứng và gia tốc liên kết kinh tế số để bảo vệ không gian tự chủ chiến lược và sự phát triển bền vững cho hơn 600 triệu dân cư trong khu vực.
Xem tóm tắt bằng web tương tác TẠI ĐÂY
Phần 1: Khuôn khổ Mẫu khảo sát, Phương pháp luận và Nhận diện Chủ thể Quyết định Chính sách tại Đông Nam Á
1.1. Cấu trúc mẫu khảo sát thực chứng và cơ chế đại diện bình đẳng cấp quốc gia
Sự phán xét lịch sử đối với mọi thể chế chính trị không bắt đầu từ những lời tuyên bố mỹ miều tại các hội nghị thượng đỉnh, mà phải được soi chiếu từ thực tế năng lực quản trị và mức độ phản ánh chân xác thân phận, tâm tư của cộng đồng dân cư. Báo cáo Khảo sát Tình hình Đông Nam Á 2026 do Trung tâm Nghiên cứu ASEAN thuộc Viện ISEAS – Yusof Ishak thực hiện đã dựng lên một bức tranh thực chứng đanh thép, bóc tách toàn bộ những góc khuất địa chính trị và sự rạn nứt thể chế của khu vực. Được triển khai trong thời gian 6 tuần, kéo dài từ ngày 05/01/2026 đến ngày 20/02/2026, cuộc khảo sát đã thu thập ý kiến chuyên sâu từ 2.008 chuyên gia, nhà quan sát và các nhà hoạch định chính sách trực tiếp thuộc 11 quốc gia thành viên ASEAN. Để đảm bảo tính tiếp cận bình đẳng và thu phục tri thức đa dạng, công cụ khảo sát đã được bản địa hóa và phát hành bằng 7 ngôn ngữ chính: Tiếng Anh, Bahasa Indonesia, Tiếng Miến Điện, Tiếng Khmer, Tiếng Thái, Tiếng Việt và lần đầu tiên có sự xuất hiện của Tiếng Tetum – ngôn ngữ chính thức của Timor-Leste.
Về mặt phương pháp luận, mẫu khảo sát áp dụng cơ chế gán trọng số bình đẳng cấp quốc gia (equal weightage), cấp cho mỗi quốc gia thành viên một tỷ lệ đóng góp cố định 9,09% vào chỉ số trung bình toàn vùng (weighted regional average). Sự phân bổ mẫu hoàn thành thực tế phản ánh sự sôi động cũng như tính tích cực của giới tinh hoa chính sách tại từng địa bàn: Singapore dẫn đầu với 246 người (chiếm 12,3%), Indonesia đứng thứ hai với 236 người (chiếm 11,8%), Philippines có 211 người (chiếm 10,5%), Campuchia đạt 10,0%, Malaysia đạt 9,7%, Myanmar đạt 9,4%, Việt Nam đạt 9,2%, Thái Lan đạt 8,5%, Lào đạt 7,7%, Brunei đạt 7,7% và Timor-Leste đạt 3,3%.
Về cơ cấu thành phần công tác (Affiliation), mẫu khảo sát quy tụ lực lượng nòng cốt định hình tư duy xã hội và chính sách: Khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất với 42,9%; đội ngũ quan chức chính phủ và công chức hành chính chiếm 21,1%; giới viện nghiên cứu, học thuật và các học viện chính sách chiếm 19,5%; tổ chức xã hội dân sự, tổ chức phi chính phủ (NGO) và truyền thông chiếm 11,2%; các nhân sự thuộc tổ chức khu vực và quốc tế chiếm 5,3%.
Trình độ học vấn của lực lượng tham gia khảo sát thể hiện một đẳng cấp trí thức vượt trội: 60,8% sở hữu bằng Cử nhân (đạt tỷ lệ cao nhất tại Việt Nam với 78,3%); 23,2% sở hữu bằng Thạc sĩ (cao nhất tại Brunei với 40,0%); 10,3% đạt trình độ sau trung học hoặc phi đại học; và 5,8% đạt trình độ Tiến sĩ (Singapore dẫn đầu khu vực về tỷ lệ Tiến sĩ với 10,2% và trình độ phi đại học với 19,9%). Về độ tuổi, nhóm lực lượng lao động trí thức trẻ và trung niên giữ vai trò áp đảo: nhóm từ 22–35 tuổi chiếm 38,0%; nhóm từ 36–45 tuổi chiếm 33,6%; nhóm từ 46–60 tuổi chiếm 20,6%; nhóm trên 60 tuổi chỉ chiếm 4,9% (trong đó từ 61–69 tuổi là 3,5% và trên 70 tuổi là 1,4%); nhóm trẻ nhất từ 18–21 tuổi chiếm 2,9%.
Xét dưới góc độ pháp lý thể chế, cấu trúc lấy mẫu này được xây dựng dựa trên nền tảng Hiến chương ASEAN (ASEAN Charter), đặc biệt là Điều 20 về cơ chế ra quyết định dựa trên nguyên tắc đồng thuận (consensus) và Điều 1.5 về nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa tất cả các quốc gia thành viên. Tuy nhiên, chính sự tuân thủ tuyệt đối quy tắc bình đẳng pháp lý này lại vô tình che giấu những mâu thuẫn triết học và thực tiễn sâu sắc. Sự kiện Timor-Leste chính thức được kết nạp trở thành thành viên thứ 11 của ASEAN vào tháng 10/2025 đã đặt ra yêu cầu pháp lý bắt buộc phải tích hợp dữ liệu của quốc gia này vào hệ thống tính toán chung từ kỳ báo cáo năm 2026.
Nghịch lý nằm ở chỗ: việc gán trọng số 9,09% ngang bằng giữa một quốc gia có quy mô dân số trên 275 triệu người và quy mô kinh tế hàng ngàn tỷ USD như Indonesia với một quốc gia vừa bước ra khỏi gian khó lịch sử như Timor-Leste hay một quốc gia thu nhập thấp như Lào đã tạo ra một “màn sương mù số liệu”. Nó cào bằng những khác biệt sinh tử về năng lực thực thi, che lấp sự chênh lệch quá lớn về tiềm lực hành chính công và quy mô kinh tế giữa các nước.
Hơn thế nữa, số liệu thực chứng phơi bày một lỗ hổng thể chế trầm trọng: sự thiếu hụt năng lực kỹ trị cấp quốc gia và rào cản chuyển hóa tri thức. Mặc dù tỷ lệ đối tượng có trình độ đại học trở lên chiếm đa số tuyệt đối (trên 89,8%), nhưng sự phân bổ trình độ chuyên sâu như Thạc sĩ, Tiến sĩ lại tập trung bất bình đẳng ở các quốc gia phát triển cao như Singapore hay Brunei. Điều này tố cáo tư duy quản lý quan liêu, tạo ra một đứt gãy nguy hiểm giữa tầng lớp nghiên cứu học thuật (19,5%) và bộ máy thực thi chính sách của khối công (21,1%). Tri thức viện sĩ bị giam cầm trong các báo cáo hàn lâm, không thể thẩm thấu thành năng lực hoạch định chính sách công thực tế. Con người – trung tâm của mọi sự phát triển – trở thành nạn nhân của một bộ máy công quyền trì trệ, nơi các con số về trình độ học vấn chỉ mang tính trang trí hơn là động lực cải cách xã hội.
1.2. Xu hướng chuyển dịch kênh tiếp nhận thông tin và sự suy giảm của truyền thông truyền thống
Trong kỷ nguyên số hóa bùng nổ, thông tin không chỉ đơn thuần là phương tiện giao tiếp mà đã trở thành nguồn tài nguyên chiến lược, định hình tư duy và thao túng hành vi chính trị của giới tinh hoa hoạch định chính sách. Dữ liệu thực chứng từ Báo cáo Khảo sát 2026 cho thấy một cuộc di cư quy mô lớn trong phương thức tiếp nhận thông tin của giới tinh hoa Đông Nam Á, kéo theo sự thoái trào cay đắng của các kênh truyền thông truyền thống và sự trỗi dậy áp đảo của các nền tảng kỹ thuật số.
3 kênh thông tin hàng đầu được giới chính sách chọn lựa để định hình nhãn quan hàng ngày bao gồm: Báo điện tử địa phương (Local Online News) giữ vị trí số một tuyệt đối với 87,2%; các nền tảng mạng xã hội (Social Media Platforms) xếp thứ hai ở mức 84,5%; và Báo điện tử quốc tế (Foreign Online News) đứng thứ ba ở mức 67,8%. Trong khi đó, Báo in truyền thống (Print Media) gục ngã thảm hại khi chỉ còn 29,9% người tin dùng. Kênh tham khảo thông tin từ “bạn bè và gia đình” chiếm 25,2%; các nguồn khác chiếm 5,4%. Đáng báo động hơn cả, trang tin điện tử chính thức của Ban Thư ký ASEAN (ASEAN Secretariat Website) rơi vào tình trạng bị ngó lơ diện rộng, chỉ đạt mức độ truy cập vô cùng hạn chế từ giới chính sách khu vực.
Sự phân hóa theo địa bàn quốc gia chỉ ra mức độ phụ thuộc đặc biệt cao vào các nền tảng tin tức số. Mức độ tiêu thụ báo điện tử địa phương đạt tỷ lệ áp đảo tại Thái Lan (95,3%), Philippines (94,8%), Singapore (93,9%), Việt Nam (92,9%) và Indonesia (88,1%). Đồng thời, sự phụ thuộc vào Mạng xã hội để cập nhật tình hình thời sự bùng nổ ở mức báo động tại Việt Nam (91,8%), Thái Lan (91,2%), Indonesia (89,8%), Philippines (85,3%) và Timor-Leste (85,1%). Đối với Báo điện tử quốc tế, mức độ tin dùng cao nhất ghi nhận tại Timor-Leste (85,1%), Malaysia (77,8%), Philippines (73,9%), Singapore (69,5%) và Indonesia (67,8%). Xét về mặt nền tảng mạng xã hội, Facebook, Instagram, TikTok và YouTube là những cái tên được đề cập với tần suất dày đặc nhất; trong khi X (Twitter) và Reddit nhận được sự quan tâm thấp hơn rõ rệt.
Sự chuyển dịch này diễn ra trong một khuôn khổ pháp lý khu vực và quốc gia đầy biến động, được điều chỉnh bởi Kế hoạch Tổng thể Truyền thông ASEAN (ASEAN Communication Master Plan II 2018–2025) và Khung chính sách ASEAN về An ninh mạng và Chống Tin giả (ASEAN Framework on Anti-Fake News). Ở cấp độ nội địa, các luật lệ quản lý không gian mạng khắt khe như Luật An ninh mạng tại Việt Nam, Luật Giao dịch Điện tử (ITE) tại Indonesia hay Luật Chống Tin giả và Thao túng Trực tuyến (POFMA) tại Singapore đã tạo nên một hành lang pháp lý, vừa nhằm bảo vệ an ninh thông tin, vừa phản ánh sự can thiệp mạnh mẽ của nhà nước vào dòng chảy dư luận.
Tuy nhiên, bóc tách bên dưới các con số thống kê là một sự thật phũ phàng về tư duy quản lý truyền thông quan liêu và sự xa rời công chúng của hệ thống thể chế ASEAN. Việc trang tin chính thức của Ban Thư ký ASEAN bị chính giới tinh hoa quay lưng là một thất bại ê chề trong chiến lược truyền thông thể chế. Ngôn ngữ chính sách của ASEAN từ lâu đã bị xơ cứng trong các biểu mẫu hành chính, rập khuôn, thiếu sức sống nhân văn và hoàn toàn bất lực trong việc cạnh tranh với tính tương tác sinh động của mạng xã hội (84,5%) hay tính kịp thời của báo điện tử. Bộ máy hành chính khu vực tỏ ra hoàn toàn xa rời nhịp đập đời sống của hơn 600 triệu người dân, biến các thông điệp chính sách thành những tệp tài liệu chết trong các lưu trữ công sở.
Nguy hiểm hơn, sự phụ thuộc vượt ngưỡng 90% vào mạng xã hội tại các quốc gia như Việt Nam (91,8%) hay Thái Lan (91,2%) đã mở ra một lỗ hổng an ninh phi truyền thống thảm khốc: nguy cơ thao túng thông tin và thao túng tâm lý địa chính trị xuyên biên giới. Trong một không gian thông tin bị chi phối bởi thuật toán thương mại và các chiến dịch tác động tâm lý bất đối xứng từ các cường quốc bên ngoài, giới hoạch định chính sách khu vực dễ dàng bị rơi vào “bẫy nhận thức” (cognitive trap). Khi thông tin sai lệch hoặc tin giả định hướng được cài cắm tinh vi, nó không chỉ làm suy giảm chất lượng ra quyết định chiến lược, mà còn kích động những làn sóng chủ nghĩa dân túy, chia rẽ tình đoàn kết giữa các dân tộc. Đó là một nghịch lý triết học đau đớn của thời đại số: khi con người tiếp cận với nhiều thông tin hơn bao giờ hết, sự minh triết và độc lập trong tư duy lại bị bào mòn thảm hại nhất.
Phần 2: Môi trường An ninh Vĩ mô và Các Tác động Xung đột Địa chính trị – Bất cập Thực thi Cấu trúc Hợp tác
2.1. Thách thức vĩ mô hàng đầu: Biến đổi khí hậu, Căng thẳng Địa – Kinh tế và Bất ổn Chính trị Nội bộ
Khi soi chiếu vào bức tranh an ninh vĩ mô của Đông Nam Á năm 2026, chúng ta không thể không bàng hoàng trước sự tích tụ cùng lúc của những hiểm họa mang tính hủy diệt đối với phẩm giá và sự sống của con người. Dữ liệu thực chứng phơi bày một thực tế cay đắng: Biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan đã vươn lên trở thành mối đe dọa vĩ mô số một của toàn khu vực, chiếm đến 60,0% sự lựa chọn của giới tinh hoa (tăng vọt từ mức 55,3% của năm 2025). Thách thức lớn thứ 2 là Căng thẳng kinh tế gia tăng giữa các nước lớn đạt 51,7%, chính thức vượt qua nỗi lo về suy thoái kinh tế toàn cầu. Đứng ở vị trí thứ 3 là Bất ổn chính trị nội bộ (bao gồm chia rẽ sắc tộc, tôn giáo và nạn tham nhũng nhức nhối) đạt 46,1% (nhảy vọt từ mức 35,3% của năm 2025).
Các thách thức vĩ mô tiếp theo giăng ra một lưới bủa vằn vện lên đà phát triển của khu vực: Thất nghiệp và suy thoái kinh tế chiếm 45,9%; Căng thẳng quân sự gia tăng tại các điểm nóng địa chính trị như Biển Đông, Eo biển Đài Loan và Bán đảo Triều Tiên chiếm 42,3%; Sự phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng thu nhập chiếm 32,6%; Chủ nghĩa khủng bố và cực đoan chiếm 13,9%; và đáng suy ngẫm nhất, tình trạng suy giảm quyền con người nằm ở cuối bảng xếp hạng chỉ với 7,4%.
Sự biến động số liệu theo từng quốc gia phản ánh những vết thương riêng biệt của từng địa bàn. Biến đổi khí hậu trở thành nỗi ám ảnh sinh tồn số một tại Philippines (71,1%), Indonesia (67,4%), Lào (65,2%), Brunei (63,9%), Timor-Leste (62,7%) và Việt Nam (62,5%). Đặc biệt, mức độ lo ngại về thiên tai tăng đột biến thảm hại tại Brunei (tăng vọt 26,3 điểm %) và Lào (tăng 17,5 điểm %). Trong khi đó, áp lực từ căng thẳng kinh tế nước lớn nhói lên nhức nhối tại Singapore (61,8%), Thái Lan (60,8%) và Campuchia (57,5%). Thảm kịch bất ổn chính trị nội bộ trở thành mối lo số một tại Myanmar (59,8%), đồng thời bùng nổ trở thành nỗi ám ảnh thứ hai tại Thái Lan (đạt 58,5% – tăng đột biến kỷ lục 24,3 điểm % so với năm 2025), Malaysia (55,7%) và Timor-Leste (53,7%).
Về mặt thể chế pháp lý, ASEAN không thiếu các tuyên bố và khung thỏa thuận nhằm quản trị các rủi ro này. Tuyên bố ASEAN về Hợp tác Biến đổi Khí hậu và Khung Kế hoạch Hành động ASEAN về Quản lý Thiên tai (AADMER) được thiết lập như những trụ cột phòng thủ. Trong lĩnh vực kinh tế, Kế hoạch Tổng thể Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC Blueprint 2025 và giai đoạn 2026–2030) đặt ra tham vọng xây dựng một thị trường thống nhất và bền vững.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa các điều khoản trên giấy và thực tế phũ phàng tố cáo một tư duy ứng phó tình thế ngắn hạn, thiếu tầm nhìn chiến lược của bộ máy quản trị vùng. Mặc dù biến đổi khí hậu là hiểm họa vĩ mô số một (60,0%), đe dọa sinh kế của hàng chục triệu nông dân và ngư dân nghèo khổ, các cơ chế như AADMER vẫn rơi vào tình trạng thiếu hụt ngân sách vận hành chuyên biệt, hoàn toàn phụ thuộc vào sự đóng góp tự nguyện, nhỏ giọt của các quốc gia. Bộ máy hành chính khu vực tỏ ra vô cảm trước những sinh linh đang bị nhấn chìm bởi lũ lụt và hạn hán, không thể xây dựng được một quỹ tài chính rủi ro khí hậu đủ mạnh để bảo vệ những cộng đồng dễ bị tổn thương nhất.
Song song đó, sự bùng nổ của nỗi lo bất ổn chính trị nội bộ (Thái Lan tăng 24,3 điểm %, Myanmar đạt 59,8%) là minh chứng đanh thép cho sự thất bại của mô hình quản trị kém hiệu quả, tham nhũng hệ thống và sự bế tắc trong cơ chế chuyển giao quyền lực. Sự suy giảm quyền con người bị đẩy xuống đáy mối quan tâm (7,4%) phơi bày một sự thật tàn nhẫn: giới tinh hoa chính trị đang ngó lơ phẩm giá và quyền cơ bản của con người để chạy theo các ván bài địa chính trị ngắn hạn. Khi tính chính danh nội bộ bị bào mòn bởi tham nhũng và bất công, các tuyên bố ngoại giao xã giao hoàn toàn không thể che đậy được sự rạn nứt từ bên trong của các quốc gia thành viên.
2.2. Tâm điểm lo ngại địa chính trị: Sự trở lại của Chính quyền Trump 2.0, Tội phạm Mạng Xuyên quốc gia và Căng thẳng Biển Đông
Bước sang năm 2026, không gian an ninh Đông Nam Á bị bao phủ bởi 3 bóng đen địa chính trị dày đặc, đe dọa trực tiếp đến sự ổn định và chủ quyền của các dân tộc trong khu vực. Mối lo ngại địa chính trị đứng vị trí số một toàn vùng thuộc về: Sự lãnh đạo của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Donald Trump (Trump 2.0) chiếm 51,9% (chính thức vượt qua vấn đề Biển Đông của năm 2025 để trở thành nỗi bất an lớn nhất). Tỷ lệ lo ngại này đạt mức đỉnh điểm tại Singapore (76,8%), Indonesia (67,8%) và Lào (52,9%).
Mối lo ngại thứ 2, nổi lên như một căn bệnh ung thư đen tối của thời đại số, là Các hoạt động lừa đảo toàn cầu và tội phạm mạng xuyên quốc gia (Global scam operations) đạt 51,4%. Nỗi sợ hãi này chiếm ưu thế tuyệt đối tại Thái Lan (60,8%), Singapore (57,7%), Myanmar (56,6%) và Timor-Leste (52,2%). Mối lo ngại đứng thứ 3 thuộc về Các hành vi hung hăng, vi phạm chủ quyền tại Biển Đông đạt 48,2%, duy trì mức báo động đỏ tại các quốc gia tranh chấp trực tiếp: Philippines (87,7%), Việt Nam (66,8%) và Brunei (63,2%). Mối lo ngại thứ 4 là Nguy cơ bùng nổ xung đột biên giới Campuchia – Thái Lan đạt 40,5%, cao nhất tại Thái Lan (88,9%), Campuchia (66,0%), Việt Nam (63,0%) và Malaysia (46,4%).
Các mối nguy cơ địa chính trị khác tiếp tục gây xáo trộn tâm lý chiến lược: Khủng hoảng nhân đạo và chính trị tại Myanmar (28,0% toàn vùng – nhưng riêng người dân Myanmar mức độ lo ngại lên tới 83,1%); Nạn buôn lậu ma túy quốc tế (26,9%); Cuộc chiến tranh Nga – Ukraine (26,6%); và Cuộc xung đột Israel – Hamas (26,5% – chiếm ưu thế đặc biệt tại các quốc gia có đa số dân cư theo đạo Hồi như Malaysia với 58,8% và Indonesia với 47,9%).
Dưới góc độ pháp lý, khu vực đã ban hành Tuyên bố ASEAN về Chống Tội phạm Xuyên Quốc gia (AMMTC), Công ước ASEAN về Chống Mua bán Người (ACTIP), Tuyên bố về Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC 2002) và Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC 1976).
Tuy nhiên, sự bùng nổ của các trung tâm lừa đảo trực tuyến xuyên quốc gia (51,4%) tại khu vực Tam giác Vàng và vùng biên giới tản quyền đã bóc trần lỗ hổng thảm hại trong quản trị biên giới và sự thiếu hụt cơ chế tư pháp hiệu quả. Hàng trăm nghìn con người nghèo khổ đã bị sập bẫy, bị cưỡng bức lao động, bị tra tấn trong các “sào huyệt công nghệ” do các tập đoàn tội phạm kiểm soát. Sự bất lực của bộ máy công an, tư pháp tại các nước Mekong và sự thiếu vắng một cơ chế dẫn độ tự động, phối hợp an ninh thời gian thực giữa các nước ASEAN đảo và ASEAN lục địa đã biến khu vực thành mảnh đất dung thân cho tội phạm xuyên quốc gia. Sự chậm trễ thể chế này là một tội ác đối với phẩm giá con người.
Đồng thời, sự trở lại của chính quyền Trump 2.0 (51,9%) phơi bày tính dễ bị tổn thương thảm hại của cấu trúc an ninh Đông Nam Á trước sự thay đổi chính sách đơn phương từ các cường quốc ngoài vùng. Tư duy giao dịch thương mại sòng phẳng, chính sách áp thuế đơn phương và sự coi thường các cam kết đa phương của Washington đã giội một gáo nước lạnh vào tâm lý ỷ lại an ninh của giới tinh hoa khu vực. Đông Nam Á bàng hoàng nhận ra rằng, khi kiến trúc an ninh bị biến thành hàng hóa giao dịch, sự tự chủ chiến lược nếu không được xây dựng trên nội lực tự cường sẽ chỉ là một lâu đài cát mong manh trước những cơn dông bão địa chính trị.
2.3. Bất cập Cấu trúc và Nút thắt Thể chế của ASEAN trong Xử lý Khủng hoảng Nội khu và Tranh chấp Biên giới
Bản chất của một liên minh chính trị – an ninh phải được kiểm chứng qua khả năng giải quyết các khủng hoảng nội bộ và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia thành viên. Tuy nhiên, dữ liệu thực chứng từ Báo cáo 2026 đã đưa ra một bản án nghiêm khắc đối với năng lực thể chế của ASEAN: 34,7% đại biểu đánh giá “ASEAN chậm chạp, không hiệu quả, không thể thích ứng với những biến động địa chính trị mới và đứng trước rủi ro trở nên vô hại trong trật tự toàn cầu”. Đây là nhận định áp đảo, đứng đầu tại 6 quốc gia thành viên: Brunei (48,4%), Indonesia (46,6%), Myanmar (45,5%), Campuchia (43,5%), Lào (41,3%) và Philippines (31,3%).
Mối lo ngại thứ hai về nhược điểm thể chế thuộc về Nguy cơ ASEAN biến thành địa bàn cạnh tranh của các nước lớn và các nước thành viên bị biến thành “chốt thí” (proxies) chiếm 32,2%. Tỷ lệ này cao nhất tại Timor-Leste (55,2%), Malaysia (42,3%), Việt Nam (38,0%) và Singapore (33,3%). Mối lo ngại thứ ba là Mất khả năng ứng phó hiệu quả với các cuộc khủng hoảng nội bộ đạt 18,1% (tăng mạnh so với 12,2% của năm 2025). Sự chia rẽ nội bộ khối chiếm 10,6%; trong khi định kiến cho rằng ASEAN mang tính chất quan liêu, xa rời quần chúng (elitist) giảm xuống còn 4,3%.
Mổ xẻ cụ thể hồ sơ khủng hoảng Myanmar – một vết thương bầm dập trong lòng khu vực – số liệu phơi bày sự phân hóa sâu sắc về phương thức xử lý: 40,4% đại biểu ủng hộ ASEAN tiến hành “đối thoại độc lập và mang tính xây dựng với tất cả các bên liên quan” (bao gồm cả Chính phủ Thống nhất Quốc gia NUG và các tổ chức vũ trang sắc tộc); 18,5% đòi hỏi hạ cấp hoặc giới hạn quan hệ ngoại giao với chính quyền quân sự (junta); 15,8% yêu cầu áp dụng các biện pháp cứng rắn hơn như trừng phạt kinh tế và đình chỉ tư cách hội viên; 11,6% đề xuất phối hợp chặt chẽ với các đối tác quốc tế; trong khi chỉ có 7,7% muốn khôi phục quyền tham dự đầy đủ của chính quyền quân sự và 6,0% chọn thái độ “không can thiệp”.
Đối với nguy cơ xung đột biên giới Campuchia – Thái Lan: 38,9% đánh giá ASEAN đã tích cực đóng vai trò trung gian hòa giải; 28,1% cho rằng ASEAN đã cố gắng hết sức trong giới hạn thể chế cho phép; 13,5% chỉ trích ASEAN chưa sử dụng hết các công cụ thể chế hiện có (như Hội đồng Tối cao TAC); 11,2% e ngại sự can thiệp của ngoại lực vào lệnh ngừng bắn; và 8,4% cho rằng phản ứng của khối quá phụ thuộc vào năng lực cá nhân của quốc gia đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN.
Về mặt cơ sở pháp lý, ASEAN sở hữu Thỏa thuận Đồng thuận 5 điểm về Myanmar (Five-Point Consensus – 5PC) phê chuẩn từ tháng 04/2021, cơ chế Hội đồng Tối cao của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC High Council), và các Tuyên bố hòa bình như Thỏa thuận Hòa bình Kuala Lumpur.
Thế nhưng, sự bế tắc thảm hại trong việc thực thi Đồng thuận 5 điểm đã vạch trần nguyên tắc “Không can thiệp” và “Đồng thuận” (Consensus) đang bị biến tướng thành một lá chắn vô hình cho các hành vi bạo lực và độc tài. Chính quyền quân sự Myanmar đã cố tình trì hoãn, vô hiệu hóa các nỗ lực ngoại giao, biến Đồng thuận 5 điểm thành một công cụ câu giờ. Nguyên tắc đồng thuận – vốn được thiết kế để bảo vệ bình đẳng chủ quyền – nay bị lạm dụng như một quyền phủ quyết (veto) ngầm, làm tê liệt hoàn toàn khả năng hành động quyết đoán của khối. Hàng triệu người dân Myanmar phải sống trong cảnh bom đạn, di tản và nghèo đói, tố cáo sự vô cảm thể chế của một bộ máy ngoại giao chỉ biết phát đi những Tuyên bố chung vô lực.
Đồng thời, việc ASEAN hoàn toàn né tránh kích hoạt Hội đồng Tối cao TAC để giải quyết các tranh chấp biên giới Campuchia – Thái Lan thể hiện một tư duy sợ hãi tiền lệ pháp lý. Các quốc gia thành viên thà chọn các giải pháp ngoại giao song phương ngắn hạn hoặc đẩy trách nhiệm sang cá nhân nước Chủ tịch ASEAN (8,4%), thay vì dũng cảm vận hành các cơ chế tài chính và tư pháp đã được quy định trong Hiến chương. Sự hèn nhát thể chế này đang đẩy ASEAN vào nguy cơ bị “vô hiệu hóa” hoàn toàn khi các xung đột biên giới bùng nổ phức tạp hơn.
2.4. Xung đột Biển Đông và Tiến trình Đàm phán Bộ Quy tắc Ứng xử (COC): Rào cản Pháp lý và Lỗ hổng Thực thi
Biển Đông không chỉ là tuyến đường giao thương hàng hải huyết mạch của thế giới mà còn là thước đo sinh tử cho năng lực bảo vệ chủ quyền và thượng tôn pháp luật của các quốc gia ven biển Đông Nam Á. Dữ liệu khảo sát năm 2026 giội một gáo nước lạnh vào những lạc quan vô căn cứ: Mối lo ngại số một tại Biển Đông thuộc về Các hành vi của Trung Quốc xâm phạm Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của các quốc gia duyên hải đạt 51,7% (tăng mạnh so với 48,2% của năm 2025). Nỗi lo này đạt mức tuyệt đối tại các quốc gia trực tiếp gánh chịu áp lực: Việt Nam (66,3%), Philippines (64,5%) và Brunei (64,5%).
Nỗi lo ngại thứ hai là Nguy cơ va chạm vô tình (accidental confrontation) hoặc sự cố trên biển dẫn đến khủng hoảng chính trị bùng nổ đạt 45,2%. Tỷ lệ này chiếm ưu thế tại các quốc gia không tranh chấp trực tiếp nhưng e ngại đổ vỡ dây chuyền: Indonesia (55,1%), Timor-Leste (53,7%), Lào (52,3%) và Campuchia (50,5%). Các mối lo ngại khác bao gồm: Hành vi quân sự hóa các thực thể và tàn phá môi trường biển của Trung Quốc chiếm 37,9%; Nguy cơ đụng độ quân sự trực tiếp giữa Mỹ và Trung Quốc chiếm 36,8%; Sự gia tăng hiện diện quân sự của các cường quốc chiếm 18,4%; và Tình trạng cạn kiệt nguồn lợi thủy sản đe dọa sinh kế ngư dân chiếm 10,0%.
Soi chiếu vào tiến trình đàm phán Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC), sự hoài nghi và yêu cầu chuẩn mực của giới tinh hoa đạt đến mức chưa từng có: 40,8% đại biểu kiên quyết yêu cầu COC “bắt buộc phải tuân thủ và phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982)”. Lập trường này nhận được sự ủng hộ áp đảo từ Việt Nam (68,5%), Timor-Leste (61,2%) và Philippines (50,2%).
Trong khi đó, 19,3% đại biểu bày tỏ mối lo ngại sâu sắc rằng COC sẽ bị biến thành công cụ cấm các nước ASEAN hợp tác quân sự hoặc thăm dò năng lượng với các bên thứ ba ngoài vùng (Lào lo lắng nhất với 30,3%, Brunei đạt 27,1%). 16,5% giữ cái nhìn thực tế cho rằng COC không thể giải quyết được tranh chấp chủ quyền nhưng có thể giúp hạ nhiệt căng thẳng; 12,3% hoài nghi thẳng thắn rằng COC sẽ không bao giờ trở thành hiện thực vì Trung Quốc không bao giờ từ bỏ các yêu sách lãnh thổ; và 11,0% cho rằng COC không nên bị lôi kéo bởi các lực lượng bên ngoài.
Về mặt thể chế pháp lý, Biển Đông được điều chỉnh bởi Công ước UNCLOS 1982 – “Hiến pháp của Đại dương” – và Phán quyết lịch sử của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) năm 2016 trong vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc, tuyên bố vô hiệu hoàn toàn các yêu sách “đường 9 đoạn” phi pháp.
Bản chất của lỗ hổng thực thi hiện nay nằm ở sự xung đột gay gắt giữa giá trị pháp lý ràng buộc của UNCLOS 1982 và âm mưu biến COC thành một công cụ tuyên truyền chính trị không có hiệu lực pháp lý ràng buộc. Trung Quốc đang tìm cách cài cắm các điều khoản nhằm hạn chế quyền tự chủ đối ngoại của các nước ASEAN, ngăn cản các quốc gia ven biển tập trận quân sự hoặc diễn tập thăm dò dầu khí với các tập đoàn phương Tây (như mối lo ngại của 19,3% đại biểu). Nếu ASEAN nhượng bộ các điều khoản này, COC sẽ biến thành một “cái bẫy pháp lý”, vô hiệu hóa sự hiện diện của luật pháp quốc tế và tước bỏ đòn bẩy phòng thủ của các nước nhỏ.
Hơn thế nữa, số liệu cho thấy một sự phân hóa nguy hiểm về tư duy chiến lược giữa nhóm các quốc gia duyên hải (Việt Nam, Philippines) và nhóm các quốc gia nội địa hoặc có lợi ích kinh tế gắn chặt với Bắc Kinh (Lào, Campuchia). Trong khi Việt Nam (68,5%) và Philippines (50,2%) coi UNCLOS 1982 là ranh giới đỏ không thể thỏa hiệp để bảo vệ chủ quyền thềm lục địa, thì các quốc gia như Lào lại nghiêng về tâm lý chấp nhận một văn bản COC chung chung để tránh làm mất lòng đối tác thương mại lớn. Sự thiếu nhất quán nội khối này đang bị Bắc Kinh khai thác triệt để theo chiến thuật “chia để trị”, làm suy yếu nghiêm trọng mặt trận ngoại giao đa phương của ASEAN.
Phần 3: Rào cản Tự do hóa Kinh tế và Động lực Củng cố Cấu trúc Liên kết Nội khối ASEAN
3.1. Các nút thắt thể chế và năng lực thực thi trong Tiến trình Hợp tác Kinh tế Nội khối ASEAN
Tiến trình hội nhập kinh tế khu vực luôn được quảng bá như một thành tựu rực rỡ nhất của Cộng đồng ASEAN. Tuy nhiên, khi bóc tách các rào cản kỹ thuật bên dưới, Báo cáo Khảo sát 2026 đã vạch trần những nút thắt thể chế trầm trọng đang cản trở đà bứt phá của thị trường chung. Trở lực lớn nhất đối với hợp tác kinh tế nội khối thuộc về: Năng lực kỹ trị nội địa của các quốc gia thành viên trong việc triển khai và thi hành các sáng kiến, cam kết của ASEAN chiếm 30,2%. Đây là trở lực hàng đầu tại Lào (36,1%), Timor-Leste (35,8%), Campuchia (35,0%), Brunei (34,8%) và Philippines (34,1%).
Xếp thứ 2 với tỷ lệ tương đương là Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các nước thành viên chiếm 30,1%. Nút thắt này nhói lên đặc biệt gay gắt tại Việt Nam (40,2%), Thái Lan (36,8%), Myanmar (34,4%) và Singapore (32,1%). Trở lực thứ 3 là Áp lực địa chính trị buộc các nước phải ưu tiên lợi ích quốc gia hơn lợi ích vùng chiếm 27,5% (cao nhất tại Indonesia với 41,9%, Philippines với 32,7% và Timor-Leste với 31,3%). Đáng chú ý, yếu tố Sự thiếu hụt quyết tâm chính trị (lack of political will) đứng ở cuối bảng xếp hạng chỉ với 12,1%.
Để nâng cao sức bền và khôi phục tính chính danh của cấu trúc kinh tế ASEAN, giới tinh hoa đề xuất các nhóm giải pháp ưu tiên: 29,9% yêu cầu ưu tiên giải quyết các bất đồng chính trị tại Myanmar và Biển Đông để tạo môi trường ổn định; 28,5% yêu cầu tập trung thúc đẩy thương mại và đầu tư nội khối; 20,7% đề xuất xây dựng các chuỗi cung ứng thay thế nhằm tự vệ trước các đòn trừng phạt thương mại; và 18,2% muốn gia tăng hợp tác trong các nhóm tiểu đa phương (minilaterals).
Về mặt thể chế, hợp tác kinh tế được định hình bởi Kế hoạch Chiến lược Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC Strategic Plan 2026–2030), Hiệp định Thương mại Hàng hóa (ATISA), Hiệp định Đầu tư Toàn diện (ACIA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).
Bản chất của bất cập nằm ở “khoảng trống kỹ trị” (technocratic gap) và tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Dù các Bộ trưởng Ngoại giao và Kinh tế ký kết vô số các hiệp định quy mô lớn, nhưng bộ máy công chức hành chính tại các quốc gia đang phát triển hoàn toàn không đủ năng lực để nội hóa các cam kết này thành văn bản luật pháp quốc gia. Tình trạng quan liêu, quy trình hải quan phức tạp, và hàng rào phi thuế quan (NTB) tự phát tại các địa phương đã vô hiệu hóa các ưu đãi thuế quan.
Đồng thời, Hố sâu phát triển (Development Divide) giữa nhóm các quốc gia phát triển cao (Singapore, Malaysia) và nhóm CLMV (Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam) cùng Timor-Leste tạo ra một sự lệch pha nguy hiểm. Trong khi Singapore muốn đẩy nhanh các tiêu chuẩn cao về kinh tế xanh, năng lượng tái tạo và dòng chảy dữ liệu tự do, thì các quốc gia thu nhập thấp lại đang vật lộn với hạ tầng cơ bản và nợ công. Sự đứt gãy này khiến cho các hiệp định kinh tế khu vực chỉ mang lại lợi ích lệch về phía các nền kinh tế tiên tiến, làm trầm trọng thêm bất bình đẳng xã hội và gây tổn thương đến lực lượng lao động yếu thế tại các nước nghèo.
3.2. Hiệp định Khung Kinh tế Số ASEAN (DEFA) và Tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (AOIP)
Trong bối cảnh nền kinh tế truyền thống gặp nhiều lực cản, chuyển đổi số và kiến tạo không gian chiến lược mới được kỳ vọng sẽ trở thành hai động lực bứt phá cho ASEAN. Dữ liệu thực chứng phản ánh sự lạc quan vọt lên đối với Hiệp định Khung Kinh tế Số ASEAN (DEFA): 44,8% đại biểu tin tưởng DEFA sẽ “đóng góp đáng kể vào việc nâng cao năng lực số và thúc đẩy thương mại số khu vực” (tăng vọt từ mức 37,3% của năm 2025). Tinh thần lạc quan này lan tỏa mạnh mẽ nhất tại Timor-Leste (64,2%), Việt Nam (51,1%), Campuchia (51,0%) và Indonesia (46,2%).
Bên cạnh đó, 27,0% đại biểu đánh giá DEFA giúp tăng cường hợp tác tích hợp thương mại số (đặc biệt là Singapore với 42,3% và Malaysia với 38,7%). Tuy nhiên, 21,0% vẫn giữ thái độ hoài nghi rằng DEFA sẽ có tác động hạn chế do sự chênh lệch quy chuẩn pháp lý và hạ tầng số nội tại (Thái Lan hoài nghi nhất với 36,3%, Myanmar 29,1%, Lào 28,4%). Đáng chú ý, mức độ nhận biết về DEFA đã đạt tiến bộ vượt bậc: tỷ lệ người “chưa từng nghe nói về DEFA” giảm xuống mức thấp kỷ lục chỉ còn 5,6% (so với 11,9% năm 2025 và 16,8% năm 2024). Đặc biệt, 100% đại biểu Thái Lan đều xác nhận đã biết đến DEFA.
Song song với kinh tế số, Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (AOIP) tiếp tục được định hình như một khuôn khổ địa chiến lược cốt lõi: 44,0% đại biểu yêu cầu AOIP phải “trở thành một tầm nhìn chiến lược mang lại lợi ích thực chất” (Timor-Leste ủng hộ 61,2%, Việt Nam 57,6%, Indonesia 55,5%). 38,0% yêu cầu AOIP phải được hỗ trợ mạnh mẽ bởi các cơ chế do ASEAN dẫn dắt như Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN Mở rộng (ADMM+). Tỷ lệ đề xuất hủy bỏ AOIP chỉ là một con số không đáng kể 1,3%.
Về cơ sở pháp lý, tiến trình đàm phán DEFA khởi động từ năm 2023 và đạt được các kết luận căn bản vào cuối năm 2025, hướng tới mục tiêu khai mở nền kinh tế số trị giá 2.000 tỷ USD vào năm 2030. AOIP được thông qua từ năm 2019 như một câu trả lời ngoại giao của ASEAN trước Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ.
Tuy nhiên, bên dưới những con số lạc quan về DEFA là một lỗ hổng thể chế chết người: sự bất tương thích hoàn toàn về khung pháp lý bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và thuế thương mại điện tử giữa các nước thành viên. Trong khi Singapore đã áp dụng chuẩn mực lưu chuyển dữ liệu xuyên biên giới linh hoạt, thì các quốc gia khác vẫn duy trì chính sách “chủ quyền dữ liệu” khắt khe, yêu cầu đặt máy chủ nội địa. Nếu không thể hài hòa hóa hệ thống pháp luật và xây dựng cơ chế bảo mật an toàn cho người tiêu dùng, DEFA sẽ chỉ tạo điều kiện cho các tập đoàn công nghệ đa quốc gia thâu tóm thị trường, biến người dân các nước nghèo thành đối tượng bị khai thác dữ liệu mà không nhận được sự bảo vệ an toàn mạng tối thiểu.
Đối với AOIP, việc 44,0% đại biểu đòi hỏi tài liệu này phải mang lại lợi ích thiết thực là một lời cảnh tỉnh trực diện dành cho giới ngoại giao. Suốt từ năm 2019 đến nay, AOIP vẫn chỉ tồn tại như một “tuyên bố định hướng” mang tính xã giao, thiếu các dự án hợp tác hạ tầng, kết nối chuỗi cung ứng và an ninh hàng hải cụ thể. Khi AOIP không thể cung cấp các “hàng hóa công” (public goods) về an ninh và phát triển, nó đứng trước nguy cơ biến thành một “tiệm nói suông” (talking shop) không hơn không kém.
3.3. Đánh giá Mức độ Tích hợp và Hệ quả Thể chế từ Việc Kết nạp Timor-Leste vào ASEAN
Sự kiện kết nạp Timor-Leste trở thành thành viên đầy đủ thứ 11 của ASEAN là một cột mốc lịch sử, thể hiện cam kết về một Đông Nam Á bao trùm và thống nhất. Dữ liệu khảo sát năm 2026 ghi nhận: 49,2% đại biểu đồng ý rằng việc gia nhập của Timor-Leste sẽ đóng góp tích cực cho các mục tiêu chung của Cộng đồng ASEAN; 46,9% giữ thái độ trung lập; và chỉ có 3,9% bày tỏ sự phản đối thẳng thắn.
Sự ủng hộ tuyệt đối với bước ngoặt này ghi nhận tại chính Timor-Leste (76,1%), Việt Nam (65,2%), Malaysia (59,8%) và Philippines (50,7%). Ngược lại, thái độ e ngại hoặc trung lập chiếm đa số tại Thái Lan (56,1%), Indonesia (55,9%), Myanmar (54,5%), Singapore (54,1%), Campuchia (53,0%) và Lào (52,9%).
Trong nhóm đại biểu ủng hộ, các lý do tích cực được chỉ ra bao gồm: 54,0% tin tưởng việc kết nạp tạo ra cơ hội phát triển kinh tế – chính trị to lớn cho Timor-Leste và toàn vùng; 18,6% tin rằng đóng góp cho mục tiêu chung; 17,6% coi đó là cam kết mang tính bao trùm (inclusivity); và 9,7% nhìn nhận đây là bước đi tái cân bằng vị thế chiến lược.
Ngược lại, trong nhóm đại biểu hoài nghi, các mối lo ngại tiêu cực được vạch ra một cách thẳng thắn: 37,7% lo sợ việc kết nạp sẽ làm “chậm tiến trình phát triển và làm xao nhãng các mục tiêu trọng tâm của ASEAN” (Philippines lo lắng nhất với 66,7%, Lào 50,0%, Malaysia 50,0%, Singapore 38,1%); 28,1% lo ngại “phức tạp hóa quy trình ra quyết định dựa trên nguyên tắc đồng thuận” (Brunei lo nhất với 55,6%, Malaysia 50,0%); và 23,6% lo ngại Timor-Leste sẽ trở thành gánh nặng tiêu tốn nguồn lực tài chính hạn hẹp của khối (Indonesia lo nhất với 66,7%, Thái Lan 50,0%).
Cơ sở pháp lý cho tiến trình này là Lộ trình kết nạp Timor-Leste trở thành thành viên đầy đủ (Roadmap for Timor-Leste’s Full Membership) được thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 42 và Điều 6 của Hiến chương ASEAN về Tiêu chí kết nạp thành viên mới.
Bóc tách các lo ngại thể chế, việc 28,1% đại biểu e ngại quy trình đồng thuận bị phức tạp hóa là một sự cảnh báo có cơ sở triết học chính trị sâu sắc. Timor-Leste là một nền dân chủ non trẻ, sở hữu chính sách đối ngoại và các ưu tiên giá trị có nhiều điểm khác biệt so với các thể chế chính trị còn lại trong khối. Khi một quyết định ngoại giao của ASEAN yêu cầu sự đồng thuận của 11 quốc gia thay vì 10, nguy cơ xảy ra bế tắc thể chế (institutional deadlock) sẽ tăng theo bội số.
Đồng thời, mối lo về gánh nặng tài chính (23,6%) tố cáo sự bất cập trong bộ máy hỗ trợ kỹ thuật của ASEAN. Timor-Leste đang đối mặt với sự thiếu hụt nghiêm trọng về đội ngũ cán bộ kỹ trị có thể tham dự hơn 1.000 cuộc họp ASEAN mỗi năm và trang trải các khoản niên phí. Nếu ASEAN không thực hiện cải cách bộ máy Ban Thư ký và không có chế độ hỗ trợ năng lực đặc thù, việc kết nạp Timor-Leste sẽ vô tình đẩy quốc gia non trẻ này vào một cái bẫy nghĩa vụ hành chính, trong khi làm suy giảm hiệu năng hành động của toàn bộ liên minh.
Phần 4: Phân Phục Cạnh tranh Chiến lược Nước lớn: Ảnh hưởng Kinh tế – Chính trị và Sự Suy giảm Niềm tin
4.1. Sự áp đảo về ảnh hưởng Kinh tế và Chính trị – Chiến lược của Trung Quốc và Tâm lý Quan ngại Vùng
Đông Nam Á từ lâu đã trở thành trọng tâm trong chiến lược vươn mình của Trung Quốc. Dữ liệu thực chứng từ Báo cáo 2026 xác nhận vị thế áp đảo tuyệt đối của Bắc Kinh: Trung Quốc tiếp tục giữ vị trí số một toàn vùng về Cường quốc có ảnh hưởng kinh tế lớn nhất với 55,9% (mặc dù giảm nhẹ so với mức 56,4% của năm 2025). Ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc được ghi nhận cao nhất tại Malaysia (67,5%), Indonesia (59,7%), Timor-Leste (59,7%), Singapore (58,9%), Brunei (56,8%) và Việt Nam (57,1%).
Tuy nhiên, thái độ của giới tinh hoa đối với sự áp đảo kinh tế này lại chứa đựng một nghịch lý sâu sắc: 55,4% biểu thị sự “lo ngại” (worried), vượt xa tỷ lệ 44,6% “hoan nghênh” (welcome). Mức độ lo ngại về sự ảnh hưởng kinh tế của Bắc Kinh đạt đỉnh điểm tại Thái Lan (90,6%), Việt Nam (81,9%) và Philippines (81,8%).
Ở khía cạnh Cường quốc có ảnh hưởng Chính trị – Chiến lược lớn nhất khu vực, Trung Quốc cũng độc chiếm vị trí số một với 40,0%. Về thái độ đối với ảnh hưởng chính trị – chiến lược của Bắc Kinh: sự “lo ngại” bùng nổ ở mức 66,1%, trong khi tỷ lệ “hoan nghênh” bị đẩy xuống chỉ còn 33,9%. Sự lo ngại chiến lược này chiếm tỷ lệ tuyệt đối tại Việt Nam (88,7%), Philippines (87,5%), Thái Lan (87,5%) và Timor-Leste (80,0%).
Khi đánh giá Chỉ số Tầm quan trọng Chiến lược của các Đối tác Đối thoại (điểm tối đa 11), Trung Quốc xuất sắc vươn lên vị trí thứ nhất với điểm số trung bình 9,1/11,0. Bắc Kinh dẫn đầu về tầm quan trọng chiến lược tại 8 trên 11 quốc gia thành viên (Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Singapore và Timor-Leste).
Về mặt thể chế, quan hệ này được nâng cấp thông qua Khung Hiệp định Hợp tác Kinh tế Toàn diện ASEAN – Trung Quốc (ACFTA 3.0) và hàng loạt dự án thuộc Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI).
Bóc tách bản chất triết học của các con số này phơi bày một trạng thái “Bất an phụ thuộc” (Asymmetric Interdependence) vô cùng nguy hiểm. Mặc dù thừa nhận sự hiện diện kinh tế (55,9%) và chính trị (40,0%) của Trung Quốc là một thực thể không thể đảo ngược, sự lo ngại (66,1%) phản ánh nỗi sợ hãi sâu sắc của các quốc gia nhỏ trước nguy cơ bị ép buộc kinh tế (Economic Coercion). Mạng lưới hạ tầng BRI và sự phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu Trung Quốc đã bị Bắc Kinh biến thành một thứ đòn bẩy địa chính trị. Khi một quốc gia thành viên cất tiếng nói bảo vệ chủ quyền biển đảo, họ lập tức đối mặt với nguy cơ bị hạn chế thương mại hoặc trả đũa du lịch.
Lỗ hổng lớn nhất của ASEAN là sự thiếu hụt các cơ chế tự vệ tập thể. Trung Quốc luôn ưu tiên đàm phán song phương để chia rẽ nội bộ khối, khiến cho các quốc gia duyên hải nghèo không thể tạo ra một mặt trận kinh tế chung để thương lượng sòng phẳng. Sự phụ thuộc kinh tế bị bóc lột đã biến nhiều quyết định chính trị thành sự đầu hàng ngầm, tổn thương nghiêm trọng đến phẩm giá tự chủ của các dân tộc Đông Nam Á.
4.2. Vị thế Địa – Kinh tế, Địa – An ninh của Hoa Kỳ và Đánh giá Vai trò Nối kết của các Đối tác Đối thoại
Đối trọng với Trung Quốc, Hoa Kỳ duy trì một vị thế chiến lược phức tạp, vừa là chỗ dựa an ninh nhưng cũng là nguồn gốc của nhiều nỗi bất an. Đánh giá về Ảnh hưởng Kinh tế của Hoa Kỳ: Washington đứng ở vị trí thứ 2 với 15,3% (cao nhất tại Philippines với 27,5%, Singapore với 19,1% và Thái Lan với 18,1%). 53,8% đại biểu lo ngại về ảnh hưởng kinh tế của Mỹ (Thái Lan lo nhất với 90,3%, Malaysia 62,5%, Singapore 61,7%).
Về Ảnh hưởng Chính trị – Chiến lược: Hoa Kỳ đứng thứ hai với 29,9%. Washington dẫn đầu tại Philippines (40,8%), Timor-Leste (38,8%) và Campuchia (36,5%). Tuy nhiên, tỷ lệ lo ngại về ảnh hưởng chiến lược của Mỹ lên tới 56,8% (Thái Lan lo nhất 88,3%, Indonesia 68,1%, Singapore 65,4%). Trong Chỉ số Tầm quan trọng Chiến lược, Hoa Kỳ xếp thứ hai với điểm số 8,6/11,0, giữ vị trí số một tại Philippines, Thái Lan và Việt Nam.
Thứ hạng chiến lược của các Đối tác Đối thoại khác lần lượt được ghi nhận: Nhật Bản xếp thứ ba (7,7 điểm); Liên minh Châu Âu (EU) xếp thứ tư (6,4 điểm); Australia xếp thứ năm (5,9 điểm); Hàn Quốc vươn lên xếp thứ sáu (5,7 điểm); Ấn Độ tụt xuống xếp thứ bảy (5,7 điểm); Vương quốc Anh xếp thứ tám (5,0 điểm); Nga xếp thứ chín (4,7 điểm); Canada xếp thứ mười (3,9 điểm); và New Zealand xếp thứ 11 (3,6 điểm).
Đặc biệt, cuộc khảo sát ghi nhận những bước ngoặt lịch sử về chỉ số niềm tin thể chế: Đối với Niềm tin vào năng lực duy trì Trật tự Dựa trên Luật lệ và Luật pháp Quốc tế: ASEAN bất ngờ vươn lên đứng đầu với 23,4%; Hoa Kỳ bị đẩy xuống vị trí thứ hai với 22,3%; EU đứng sát thứ ba với 20,5%; Trung Quốc chỉ đạt 13,6%; và Nhật Bản đạt 9,7%.
Đối với Niềm tin vào năng lực dẫn dắt Thương mại Tự do Toàn cầu: ASEAN đứng đầu với 25,5%; Trung Quốc đứng thứ hai với 21,3%; EU vươn lên thứ ba với 19,2%; trong khi Hoa Kỳ hứng chịu sự sụt giảm thảm hại xuống vị trí thứ tư chỉ còn 14,8% (so với 19,0% của năm 2025).
Cơ sở pháp lý điều chỉnh bao gồm Khung Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vì Sự Thịnh vượng (IPEF) và các Hiệp ước Liên minh Phòng thủ Song phương giữa Mỹ với Philippines và Thái Lan.
Sự sụt giảm niềm tin thảm hại vào vai trò lãnh đạo thương mại tự do của Hoa Kỳ (xuống 14,8%) là một bản án tố cáo chính sách bảo hộ “Nước Mỹ trên hết” và sự quay lưng lại với các hiệp định đa phương. Washington đòi hỏi các nước Đông Nam Á phải chọn bên và tuân thủ các chuẩn mực an ninh của Mỹ, nhưng lại hoàn toàn không mở cửa thị trường và từ chối cung cấp các ưu đãi thương mại thực chất qua IPEF.
Sự bất cân bằng này phơi bày một tư duy coi Đông Nam Á chỉ là một bàn cờ quân sự phục vụ cho chiến lược kiềm chế Trung Quốc. Khi Hoa Kỳ áp dụng tiêu chuẩn kép – vừa yêu cầu thượng tôn luật pháp quốc tế ở Biển Đông nhưng lại phớt lờ các thể chế đa phương khi hành động đơn phương – Washington đang tự tay bào mòn tính chính danh chiến lược của chính mình trong mắt giới tinh hoa khu vực.
4.3. Sự Trỗi dậy của các Khuôn khổ Hợp tác Đa phương Mới (Plurilateral Groupings) và Thách thức đối với Vai trò Trung tâm ASEAN
Sự suy giảm hiệu năng của các thể chế đa phương truyền thống đã kích hoạt sự trỗi dậy mạnh mẽ của các nhóm hợp tác tiểu đa phương (Plurilateral Groupings) ngoài hệ thống Liên Hợp Quốc và ASEAN (như AUKUS, Quad, BRICS, I2U2, GCAP, MSP). Dữ liệu khảo sát năm 2026 cho thấy tư duy ứng xử phân hóa rõ rệt của giới tinh hoa khu vực trước làn sóng này:
33,0% đại biểu (tăng mạnh 6,8 điểm % so với năm 2025) khẳng định: “ASEAN phải tăng cường sức mạnh triệu tập (convening power) và ảnh hưởng chuẩn mực để đảm bảo các nước thành viên cam kết và ngăn họ gia nhập các nhóm khác”. Giải pháp này nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ nhất tại Indonesia (44,5%), Philippines (39,3%), Lào (38,7%) và Campuchia (37,0%).
29,4% cho rằng “Các nước thành viên ASEAN cần hết sức thận trọng khi tham gia các nhóm có nguy cơ xói mòn Vai trò Trung tâm của ASEAN” (đây là lựa chọn hàng đầu tại Singapore với 36,6%, Timor-Leste 32,8% và Thái Lan 32,2%).
17,9% ủng hộ ASEAN nên chủ động gia nhập tập thể các nhóm này với tư cách một khối thống nhất.
15,4% ủng hộ quyền tự do của từng quốc gia thành viên được gia nhập bất kỳ nhóm nào vì lợi ích quốc gia tối thượng (Timor-Leste ủng hộ cao nhất với 23,9%).
Chỉ có 4,4% chọn giải pháp cực đoan là tuyệt đối không tham gia bất kỳ nhóm nào khác ngoài ASEAN.
Cơ sở pháp lý liên quan đến vấn đề này là nguyên tắc “Vai trò Trung tâm của ASEAN” (ASEAN Centrality) được ghi nhận trong Hiến chương ASEAN. Trong khi đó, các cơ chế mới như Bộ Tứ (Quad), Liên minh AUKUS, và Khối BRICS (mà Indonesia đã chính thức trở thành thành viên từ năm 2025) đang tạo ra một lực hút địa chính trị vô cùng lớn.
Bản chất của hiện tượng này là sự “Phân mảnh Thể chế” (Institutional Fragmentation) và nguy cơ ASEAN bị giải thể từ bên trong. Việc 15,4% đại biểu công khai đòi ưu tiên lợi ích quốc gia hơn lợi ích khối khi tham gia các câu lạc bộ bên ngoài phơi bày một thực tế cay đắng: Vai trò Trung tâm của ASEAN đang bị biến thành một khẩu hiệu suông. Khi ASEAN không thể cung cấp các giải pháp an ninh cứng (như AUKUS hay Quad) hay các cơ hội tài chính, thị trường mới (như BRICS), các quốc gia thành viên buộc phải tự cứu mình bằng cách tìm kiếm sự bảo hộ từ bên ngoài.
Sự ly tâm này tạo ra một vòng xoáy nguy hiểm: càng nhiều quốc gia thành viên tham gia các nhóm tiểu đa phương riêng lẻ, tính thống nhất và sức mạnh đàm phán tập thể của ASEAN càng bị xói mòn. ASEAN đứng trước nguy cơ bị đẩy ra lề lịch sử, trở thành một khán giả thụ động trên chính bàn cờ địa chính trị Đông Nam Á.
Phần 5: Bài toán Tự chủ Chiến lược của ASEAN trong Dòng xoáy Cạnh tranh Mỹ – Trung
5.1. Phân tích Các Lựa chọn Chiến lược của ASEAN và Kịch bản Buộc phải Chọn bên giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ
Đứng trước cơn cuồng phong cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung, tự chủ chiến lược không còn là một lựa chọn xa xỉ mà đã trở thành điều kiện sinh tồn cho toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Dữ liệu khảo sát 2026 phơi bày tư duy ứng phó tối ưu của giới tinh hoa: 55,2% đại biểu khẳng định ASEAN phải “tăng cường sức bền và sự đoàn kết nội khối để đẩy lùi áp lực buộc phải chọn bên từ hai siêu cường”. Tinh thần tự cường này vọt lên áp đảo tại Thái Lan (68,4%), Philippines (66,8%), Việt Nam (64,1%) và Indonesia (58,1%).
Bên cạnh đó, 24,1% chọn giải pháp tiếp tục kiên trì giữ vững lập trường không chọn bên truyền thống; 14,4% ủng hộ việc tích cực tìm kiếm “bên thứ ba” (third parties) để mở rộng không gian chiến lược; và chỉ có 6,3% thừa nhận thẳng thắn rằng việc duy trì trung lập là không khả thi và buộc phải chọn một trong hai bên.
Tuy nhiên, khi đặt vào Kịch bản Giả định “Nếu buộc phải chọn bên giữa hai siêu cường”, kết quả khảo sát đã tạo ra một cơn chấn động địa chính trị: Tỷ lệ nghiêng về phía Trung Quốc vươn lên đạt 52,0%, trong khi Hoa Kỳ bị đẩy xuống 48,0% (đảo ngược hoàn toàn so với kết quả năm 2025 khi Mỹ dẫn trước với 52,3% so với 47,7%).
Sự phân hóa quốc gia trong kịch bản chọn bên phơi bày một Đông Nam Á bị đứt gãy làm đôi: Trung Quốc giành ưu thế tuyệt đối tại 6 quốc gia: Indonesia (80,1%), Malaysia (68,0%), Singapore (66,3%), Timor-Leste (58,2%), Thái Lan (55,0%) và Brunei (53,5%). Ngược lại, Hoa Kỳ duy trì thế dẫn trước tại 4 quốc gia: Philippines (76,8%), Myanmar (61,4%), Campuchia (61,0%) và Việt Nam (59,2%); riêng Lào ghi nhận tỷ lệ chia đều 50–50.
Đối với lựa chọn “Bên thứ ba” đáng tin cậy nhất để củng cố chính sách tự vệ (hedging): Liên minh Châu Âu (EU) đứng vị trí số một với 37,7%; Nhật Bản xếp sát thứ hai với 34,2%; Australia đạt 9,7%; Ấn Độ đạt 7,4%; Vương quốc Anh đạt 5,9%; và Hàn Quốc đạt 5,1%.
Về cơ sở pháp lý, chính sách tự chủ được bảo chứng bởi Tuyên bố về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN 1971) và Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á Không Vũ khí Hạt nhân (SEANWFZ 1995).
Bóc tách bản chất triết học của sự dịch chuyển 52–48% này phơi bày sự mong manh thảm hại của “Trọng tâm Đu quay” (Hedging). Việc cán cân nghiêng từ Mỹ sang Trung Quốc chỉ sau một năm không xuất phát từ việc các nước yêu thích mô hình phát triển của Bắc Kinh, mà do sự thất vọng sâu sắc đối với chính sách trừng phạt thuế quan và sự coi thường đa phương của chính quyền Trump 2.0. Nguyên tắc trung lập của ASEAN thực chất không dựa trên một sức mạnh nội tại tự cường, mà là một sự đu đưa bấp bênh, thụ động chạy theo các lợi ích kinh tế ngắn hạn.
Hơn thế nữa, việc đặt niềm tin vào các “bên thứ ba” như EU (37,7%) hay Nhật Bản (34,2%) cho thấy một tâm lý phụ thuộc mới. Mặc dù EU và Nhật Bản là những đối tác chuẩn mực, nhưng cả hai thực thể này đều đang đối mặt với các khủng hoảng nội bộ và hoàn toàn thiếu năng lực răn đe quân sự cứng tại chỗ để bảo vệ Đông Nam Á nếu một cuộc chiến tranh cường quốc bùng nổ. Sự tự an ủi bằng “bên thứ ba” chỉ là một sự trốn tránh thực tế, khi ASEAN không dũng cảm tự xây dựng cho mình một năng lực phòng thủ và kinh tế tập thể đủ mạnh.
5.2. Các Yếu tố Rủi ro Làm Suy giảm Quan hệ với Trung Quốc và Yêu cầu Tối thượng về Tôn trọng Pháp luật Quốc tế
Mặc dù giành ưu thế trong kịch bản chọn bên, mối quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc vẫn chứa đựng những mầm mống khủng hoảng có thể bùng nổ bất kỳ lúc nào. Dự báo về quan hệ song phương trong 3 năm tới: 55,6% tin tưởng quan hệ sẽ cải thiện; 31,1% cho rằng giữ nguyên; và 13,4% lo ngại giật lùi. Philippines là một ngoại lệ thảm hại khi có tới 55,0% đại biểu dự báo quan hệ với Bắc Kinh sẽ tiếp tục xấu đi nghiêm trọng.
Soi chiếu vào các yếu tố rủi ro có khả năng làm sụp đổ hình ảnh của Trung Quốc trong khu vực, dữ liệu khảo sát đã chỉ ra 3 “ngòi nổ” hàng đầu: Yếu tố số một: Việc Trung Quốc can thiệp vào công việc nội bộ của các nước ASEAN (bao gồm thao túng không gian mạng xã hội và tác động vào cộng đồng gốc Hoa nội địa) đứng đầu với 30,3%. Mối lo ngại này vọt lên đỉnh điểm tại Myanmar (44,6%), Indonesia (42,3%), Lào (35,8%), Thái Lan (33,3%) và Singapore (31,1%).
Yếu tố số hai: Các hành vi cường quyền, vi phạm chủ quyền tại Biển Đông và sông Mekong đứng thứ hai với 28,0% (Philippines lo nhất với 43,9%, Việt Nam 43,8%, Brunei 40,6%).
Yếu tố số ba: Các biện pháp ép buộc kinh tế thông qua trừng phạt thương mại và du lịch chiếm 22,1% (Thái Lan 37,2%, Timor-Leste 35,0%). Các yếu tố khác như cách đối xử với các dân tộc thiểu số/Hồng Kông chiếm 11,0% và Nguy cơ thu hồi Đài Loan bằng vũ lực chiếm 8,6%.
Để cải thiện quan hệ song phương, 35,1% đại biểu kiên quyết yêu cầu Trung Quốc “phải giải quyết mọi tranh chấp chủ quyền và biển đảo một cách hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế” (Philippines đòi hỏi 76,7%, Việt Nam 55,2%, Malaysia 50,0%); 25,5% yêu cầu Tôn trọng chủ quyền và không hạn chế quyền lựa chọn đối ngoại; 20,1% đòi Cân bằng lại cán cân thương mại; và 16,9% đòi Đẩy mạnh giao lưu nhân dân.
Đánh giá về vai trò “Lãnh đạo Nam Bán cầu” (Global South) của Trung Quốc: 41,9% tỏ ra tự tin; 29,1% chọn Không bình luận; và 29,0% bày tỏ sự không tự tin (Philippines mất niềm tin cao nhất với 54,1%, Việt Nam 34,7%).
Cơ sở pháp lý điều chỉnh các rủi ro này là Công ước UNCLOS 1982 và các Quy chế Hợp tác Mekong – Lạn Thương (MLC).
Sự bùng nổ của mối lo can thiệp nội bộ (30,3%) vọt lên vị trí số một phơi bày một sự chuyển dịch rủi ro nguy hiểm: từ áp lực quân sự ở vùng biển xa vào thẳng chính trường nội địa của các quốc gia. Sự xuyên thấu của mạng xã hội do Bắc Kinh kiểm soát và việc lợi dụng cộng đồng kiều dân để gây áp lực chính trị là một hình thức xâm lược phi truyền thống, đe dọa trực tiếp đến chủ quyền số và sự ổn định xã hội của các nước ASEAN.
Đồng thời, sự bất tương thích giữa lời nói ngoại giao đạo đức về “Nam Bán cầu” và hành động cường quyền thực địa tại Biển Đông hay việc chặn dòng nước trên sông Mekong tố cáo sự thiếu hụt tính chính danh chuẩn mực của Bắc Kinh. Một cường quốc không thể đòi hỏi sự tôn sùng và niềm tin chân thành khi vẫn tiếp tục sử dụng sức mạnh cơ bắp để chèn ép các quốc gia láng giềng nhỏ yếu.
5.3. Mối Quan hệ với Hoa Kỳ dưới Thời Trump 2.0: Mối Đe dọa từ Bảo hộ Thương mại và Yêu cầu Tự do hóa
Nhìn sang bờ bên kia Thái Bình Dương, sự trở lại của chính quyền Trump 2.0 đang giội những gáo nước lạnh vào kỳ vọng hợp tác của Đông Nam Á. Dự báo quan hệ với Mỹ dưới thời Trump 2.0: 37,7% dự báo “giữ nguyên”; 32,8% dự báo “cải thiện”; trong khi tỷ lệ dự báo “xấu đi” vọt lên 29,5% (tăng gấp đôi so với mức 14,2% của năm 2025). Lo ngại quan hệ giật lùi tăng cao nhất tại Thái Lan (47,4%), Singapore (43,5%), Indonesia (35,2%) và Malaysia (30,4%).
Yếu tố hàng đầu tàn phá hình ảnh của Hoa Kỳ trong mắt giới tinh hoa khu vực thuộc về: Việc Hoa Kỳ áp dụng các biện pháp trừng phạt, thuế quan trừng phạt và rào cản thương mại áp đảo tuyệt đối ở mức 43,4% (tăng gấp đôi so với 21,3% của năm 2025). Mối lo thuế quan này bùng nổ tại Việt Nam (60,6%), Timor-Leste (60,0%), Philippines (50,0%), Singapore (50,0%), Myanmar (45,5%), Thái Lan (43,9%) và Malaysia (40,3%).
Các yếu tố tàn phá hình ảnh khác bao gồm: Sự can thiệp vào công việc nội bộ chiếm 21,3%; Sự ủng hộ vô điều kiện của Mỹ dành cho Israel trong xung đột Gaza chiếm 17,9% (Indonesia ngại nhất với 41,7%, Malaysia 25,8%); Tần suất tuần tra, tập trận quân sự tại Biển Đông chiếm 14,9%; và Sự ủng hộ dành cho Đài Loan chiếm 2,6%.
Để khôi phục niềm tin, 38,5% đại biểu yêu cầu Hoa Kỳ “phải tôn trọng luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương, không làm suy yếu hệ thống toàn cầu” (Singapore đòi hỏi cao nhất với 53,3%, Timor-Leste 47,1%, Indonesia 47,0%, Malaysia 42,4%, Philippines 41,3%); 24,9% yêu cầu Hoa Kỳ theo đuổi thương mại tự do và đối tác chiến lược thay vì áp thuế trừng phạt (Việt Nam đòi hỏi 53,8%, Thái Lan 35,8%); và 19,6% đòi Tôn trọng chủ quyền và tự chủ đối ngoại.
Đánh giá Hoa Kỳ như một Đối tác An ninh Đáng tin cậy: 42,7% giữ niềm tin (Philippines tin nhất 55,4%, Timor-Leste 56,7%, Campuchia 56,0%); 32,3% tỏ ra Hoài nghi hoặc Không tin tưởng (Indonesia bất an nhất 54,6%, Singapore 53,3%, Malaysia 40,2%); và 25,0% chọn Không bình luận.
Cơ sở pháp lý điều chỉnh là các quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về Thuế quan MFN và Cơ chế Giải quyết Tranh chấp, cùng Sắc lệnh “Ngày Giải phóng” (Liberation Day Announcement tháng 04/2025) áp thuế đối ứng của Mỹ và Thỏa thuận Thương mại Song phương US-Indonesia ART (tháng 02/2026).
Nỗi sợ hãi thuế quan trừng phạt (43,4%) vạch trần bản chất của chủ nghĩa bảo hộ đơn phương dưới thời Trump 2.0. Việc Washington biến thuế quan thành vũ khí đe dọa trực tiếp đến mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu của các nước ASEAN, đập tan những nỗ lực xây dựng chuỗi cung ứng tin cậy.
Hơn thế nữa, việc 38,5% đại biểu yêu cầu Mỹ tôn trọng luật pháp quốc tế tố cáo sự bất bình sâu sắc trước “tiêu chuẩn kép” của Washington. Mỹ không thể vừa đòi hỏi các nước Đông Nam Á tuân thủ UNCLOS 1982 để kiềm chế Trung Quốc, lại vừa bảo kê cho các vi phạm nhân quyền và luật pháp quốc tế tại Gaza hay đơn phương phá vỡ các quy định thương mại của WTO. Sự bất nhất về mặt giá trị này đang hủy hoại tư cách lãnh đạo đạo đức của Hoa Kỳ, biến các cam kết an ninh của Washington thành những lời hứa mơ hồ, thiếu tin cậy.
Phần 6: Khảo sát Mức độ Niềm tin Chiến lược, Sức mạnh Mềm và Định hướng Khôi phục Thể chế
6.1. Biến động Tương quan Niềm tin Chiến lược đối với các Nước lớn (Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Ấn Độ)
Niềm tin chiến lược là thứ vốn nghèo nàn nhất nhưng lại mang tính quyết định trong trật tự địa chính trị toàn cầu. Khi khảo sát về khả năng của các cường quốc trong việc “làm điều đúng đắn để đóng góp cho hòa bình, an ninh và thịnh vượng toàn cầu”, Báo cáo 2026 đã phác họa một sự dịch chuyển tương quan sâu sắc:
Nhật Bản: Giữ vững vị trí số một tuyệt đối về độ tin tưởng chiến lược với 65,6% (Mức độ Mất niềm tin chỉ là 15,7%). 41,4% đại biểu coi Nhật Bản là cường quốc có trách nhiệm hàng đầu trong việc tôn trọng và bảo vệ luật pháp quốc tế.
Liên minh Châu Âu (EU): Đứng thứ hai về độ tin tưởng với 55,9% (Mất niềm tin: 22,3%).
Hoa Kỳ: Đứng thứ ba với 44,0% Tin tưởng (Mất niềm tin lên tới 35,5%).
Trung Quốc: Đứng thứ tư với 39,8% Tin tưởng (Mất niềm tin: 35,2%; Không bình luận: 25,0%). Đáng chú ý, đây là mốc lịch sử tính từ năm 2019 khi tỷ lệ tin tưởng Trung Quốc lần đầu tiên vượt qua tỷ lệ mất niềm tin.
Ấn Độ: Đứng thứ năm với 38,5% Tin tưởng (Mất niềm tin: 34,1%).
Mổ xẻ nguyên nhân dẫn đến Niềm tin đối với Trung Quốc: 47,8% đại biểu tin nhờ tiềm lực kinh tế to lớn và quyết tâm chính trị mạnh mẽ; 22,4% coi Trung Quốc là bên có trách nhiệm. Ngược lại, lý do Mất niềm tin vào Trung Quốc: 43,8% lo ngại sức mạnh quân sự và kinh tế của Bắc Kinh đe dọa chủ quyền quốc gia; 23,6% cho rằng Trung Quốc bận rộn giải quyết chuyện nội bộ nên không chăm lo cho quốc tế; và 16,5% coi Trung Quốc không phải cường quốc có trách nhiệm.
Cơ sở pháp lý điều chỉnh là các Hiệp định Đối tác Chiến lược Toàn diện (CSP) giữa ASEAN với các nước lớn, cùng Hiến chương Liên Hợp Quốc và UNCLOS 1982.
Bản chất của bức tranh niềm tin này chỉ ra một “Khoảng trống Lãnh đạo Chiến lược” nghiêm trọng. Cả hai siêu cường trực tiếp cạnh tranh là Hoa Kỳ (35,5% mất niềm tin) và Trung Quốc (35,2% mất niềm tin) đều hứng chịu sự hoài nghi sâu sắc từ khu vực. Cả hai đều bị xem là hành động vì lợi ích vị kỷ cường quyền hơn là vì lợi ích chung của nhân loại.
Nghịch lý nằm ở chỗ: Nhật Bản (65,6%) và EU (55,9%) sở hữu nguồn vốn niềm tin chiến lược khổng lồ nhờ chính sách hỗ trợ phát triển nhân văn và tôn trọng luật pháp quốc tế, nhưng cả hai thực thể này lại thiếu sự quyết đoán về chính trị – quân sự và tiềm lực kinh tế đủ mạnh để đứng ra thay thế vai trò bảo trợ an ninh của Mỹ hay sức hút thị trường của Trung Quốc. Đông Nam Á rơi vào một trạng thái lấp lửng triết học: nơi các cường quốc có sức mạnh thì thiếu niềm tin, còn các đối tác có niềm tin lại thiếu sức mạnh để dẫn dắt.
6.2. Sức mạnh Mềm, Sự Lựa chọn An cư/Tập huấn và Giải pháp Kiến tạo Thể chế Quản trị Vùng Bền vững
Để thoát khỏi cái bẫy cạnh tranh siêu cường và khôi phục hiệu năng quản trị, ASEAN cần những giải pháp kiến tạo thể chế mang tính bước ngoặt, xuất phát từ năng lực nội tại và sức mạnh mềm của các quốc gia thành viên.
Đánh giá về Mức độ Đóng góp Lãnh đạo Vùng của các Quốc gia Thành viên ASEAN: Singapore được công nhận là quốc gia thể hiện năng lực lãnh đạo tốt nhất khu vực trong việc giải quyết các thách thức chung, chiếm 31,3% lựa chọn. Nguyên nhân chính: 38,4% đại biểu đánh giá cao vai trò lãnh đạo kinh tế và năng lực định hình các thảo luận chính sách vùng. Singapore dẫn đầu lựa chọn tại 6 quốc gia: Philippines (50,7%), Malaysia (49,0%), Thái Lan (45,0%), Indonesia (38,1%), Việt Nam (36,4%) và Campuchia (28,0%).
Indonesia đứng thứ hai với 22,2% lựa chọn. Nguyên nhân chính: 31,7% đánh giá cao khả năng kiến tạo đồng thuận nội khối (dẫn đầu lựa chọn tại Myanmar với 33,9%, Brunei 32,3% và Lào 32,3%).
Malaysia đứng thứ ba với 21,3%. Nguyên nhân: 45,2% đánh giá cao năng lực thể hiện xuất sắc trong năm đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2025 (dẫn đầu tại Singapore với 52,4% và Timor-Leste 43,3%).
Thái Lan xếp thứ tư với 7,9%; các quốc gia còn lại chỉ nhận được sự công nhận mờ nhạt.
Từ hệ thống dữ liệu thực chứng, Báo cáo Khảo sát 2026 tổng hợp Nhóm Giải pháp Tổng thể Kiến tạo Thể chế Vùng (Empirical Policy Recommendations):
Thứ nhất: Đẩy mạnh liên kết kinh tế nội khối: 42,2% đại biểu yêu cầu tăng tốc tích hợp kinh tế nội khu để chủ động ứng phó với chủ nghĩa bảo hộ thương mại toàn cầu (Việt Nam ủng hộ mạnh nhất với 61,4%, Brunei 49,0%, Lào 47,1%).
Thứ hai: Đa phương hóa quan hệ đối ngoại: 30,0% yêu cầu sâu sắc hóa hợp tác với các đối tác cùng chí hướng (Thái Lan ủng hộ 47,4%, Indonesia 41,1%, Singapore 38,6%).
Thứ ba: Củng cố thể chế luật pháp: 24,6% yêu cầu củng cố các cơ quan thể chế của ASEAN nhằm hỗ trợ nguyên tắc thượng tôn pháp luật (Philippines ủng hộ 40,8%, Timor-Leste 32,8%).
Thứ tư: Hoàn thiện DEFA và hiện thực hóa AOIP để xây dựng cơ chế quản trị chuyển đổi số và an ninh hàng hải thực chất.
Khung khuyến nghị chính trị – chính sách triển khai chiến lược:
Một là: Cải cách đột phá cơ chế ra quyết định: Chuyển đổi linh hoạt nguyên tắc “Đồng thuận” (Consensus) sang công thức “ASEAN Minus X” hoặc áp dụng cơ chế ra quyết định theo đa số đối với các vấn đề hợp tác kinh tế số, ứng phó thiên tai và an ninh phi truyền thống khẩn cấp. Không thể để một quốc gia thành viên sử dụng quyền phủ quyết ngầm để làm tê liệt toàn bộ liên minh.
Hai là: Thúc đẩy nhanh tiến trình phê chuẩn và thực thi DEFA: Xây dựng Khung pháp lý dùng chung về định danh số, lưu chuyển dữ liệu xuyên biên giới có bảo mật, nhằm khỏa lấp khoảng cách phát triển kỹ thuật giữa các nước phát triển và nhóm CLMV cùng Timor-Leste, lấy con người làm trung tâm của sự phát triển công nghệ.
Ba là: Hiện thực hóa giá trị pháp lý ràng buộc của COC: Kiên quyết đàm phán Bộ Quy tắc Ứng xử Biển Đông trên cơ sở tuân thủ vô điều kiện Công ước UNCLOS 1982 và Phán quyết PCA 2016. Kiên quyết loại bỏ mọi điều khoản cấm hợp tác kinh tế, quân sự với bên thứ ba, bảo vệ quyền tự chủ đối ngoại hợp pháp của các quốc gia ven biển.
Bốn là: Gia tăng sức bền chuỗi cung ứng và đa dạng hóa thị trường: Đẩy mạnh thực thi các thỏa thuận thương mại tự do thế hệ mới như RCEP, CEPA và mở rộng mạng lưới đối tác chiến lược với EU, Nhật Bản, Australia để tự vệ trước các đòn áp thuế đơn phương từ chính quyền Trump 2.0.
Năm là: Nâng cấp bộ máy Ban Thư ký ASEAN: Tăng cường ngân sách vận hành chuyên biệt, trao thêm quyền hạn hành pháp cho Tổng Thư ký ASEAN trong việc điều phối các nguồn lực cứu trợ nhân đạo và trung gian hòa giải khủng hoảng nội khu.
Sự phân hóa về vai trò lãnh đạo giữa Singapore (mạnh về kinh tế với 38,4%), Indonesia (mạnh về kiến tạo đồng thuận với 31,7%) và Malaysia (mạnh về điều phối nhiệm kỳ với 45,2%) cho thấy ASEAN đang thiếu một quốc gia đầu tàu duy nhất sở hữu đầy đủ cả tiềm lực kinh tế lẫn uy quyền an ninh. Tuy nhiên, đây cũng chính là cơ hội để ASEAN kiến tạo một “Mô hình Lãnh đạo Tập thể” (Collective Leadership).
Tương lai của Đông Nam Á không nằm ở sự phụ thuộc vào rủ lòng thương hay bảo hộ bấp bênh từ các siêu cường bên ngoài, mà nằm ở sự dũng cảm tự cải cách thể chế từ bên trong. Chỉ khi dỡ bỏ được những rào cản quan liêu, tôn trọng phẩm giá con người, và kiên quyết bảo vệ thượng tôn pháp luật quốc tế, ASEAN mới có thể đứng vững như một tâm điểm ổn định, tự chủ và thịnh vượng trong một trật tự thế giới đầy biến động.
Trích dẫn chính thức:
- Lin, J. et al., The State of Southeast Asia: 2026 Survey Report (Singapore: ISEAS – Yusof Ishak Institute, 2026).
DONATE:
- Mạng lưới: Monero (XMR)
- Địa chỉ ví:




